Mùi bánh mì
Không hiểu vì răng mà mỗi khi đi ngang qua lò bánh mì, trong tôi lại dậy lên một cảm giác thân quen, một cái mùi thân thuộc. Không phải mùi trầm, không phải mùi hương, mà là mùi bánh mì mới ra lò. Cái mùi đó, chỉ cần thoảng qua thôi, là cả một vùng ký ức cũ tự nhiên trở về, nhẹ như sương sớm trên sông.
Ngày xưa ở Huế, phía sau nhà của chúng tôi là lò bánh mì ở dốc Nam Giao, gần chùa Bảo Quốc. Vào những ngày tháng đó, lúc trời còn tờ mờ, chưa sáng hẳn, chỉ mới đủ thấy bóng người, là mùi bánh mì đã lan ra, trùm lên cả xóm. Mùi bột mì ủ qua đêm, mùi lửa than hồng, mùi bánh vừa chín tới – nó không nồng, mà ấm. Ấm như bàn tay mẹ đặt lên trán con vào những ngày đông giá lạnh ở xứ Huế vì cơn gió Lào thổi về.
Tôi còn nhớ, những buổi sớm như ri, từng đoàn xe đạp cà rịch cà tang, phía sau chở cần xé đầy bánh mì nóng hổi. Người đi bán bánh chạy khắp kiệt ni, phố nọ. Trong đám những người đó, có cả anh con của dì tôi. Hồi đầu, anh còn xe đạp. Sau ni xe hư, anh cuốc bộ và vác bao vải bố đầy bánh mì nặng trĩu trên vai. Chỉ có cái giọng rao là không thay đổi: “Bánh mì nóng giòn đây… bánh mì mới ra lò, vừa thổi vừa ăn đây…”.
Giờ nghĩ lại, không hiểu vì răng mà mỗi lần nghe lại cái giọng rao đó, mắt tôi cứ cay cay. Có lẽ vì nó mang theo cả một trời ký ức nghèo khó, lam lũ đầy đau thương.
Nhà tôi hồi đó chật lắm. Cả căn nhà lớn phía trên chỉ có một buồng cho bà ngoại hoặc mẹ tôi còn dãy nhà phía dưới thì các o của chúng tôi chiếm cứ nên buổi tối, tôi thường ôm sách vở lên ngồi cạnh mấy cột điện gần chùa Bảo Quốc học bài cho yên. Học chừng đến một hay hai giờ khuya là quay về nhà.
Về đến nhà, thế nào cũng có việc để làm: Khi thì chạy mua bao thuốc cho anh thợ chính làm bánh mì, lúc thì mua chai nước ngọt cho mấy người thợ phụ. Bù lại, tôi luôn được tặng mấy ổ bánh mì mới ra lò nóng hổi. Bánh mì hồi đó không cần kẹp thịt, kẹp chả gì cũng vẫn ngon lạ thường. Nhưng khoái khẩu nhất là bánh mì chấm nước cá kho. Cá nục, cá ngừ kho mặn mặn, chỉ cần múc chút nước, thêm chút ớt xay thôi, chấm với bánh mì mới ra lò, nóng hổi. Ăn rứa, nuốt tới đâu nó ngon tới đó sướng cả người. Vừa ăn vừa nghe trong người sao mà ấm chi lạ, no không chỉ cái bụng mà bằng cả cái lòng.
Có những đêm khuya, đang định đi ngủ thì anh thợ cả liệng tờ giấy qua nhà nhờ qua phụ vì thiếu người. Thế là tôi thành thợ bánh mì bất đắc dĩ. Đứng bên bếp than củi lớn, hơi nóng hắt lên, mồ hôi rịn ra sau lưng. Mùi bột, mùi bánh, mùi lửa quyện vào nhau, khó tả lắm.
Vào những buổi đầu, tôi đứng coi một chút rồi nhảy vô phụ lúc mô không hay. Người thì ngắt bột, cân từng cục cho đều. Người thì xe cục bột cho dài ra, hai tay rũ bột nghe phành phạch. Chỉ trong chớp mắt, cục bột tròn vo đã thành hình ổ bánh. Tay khác cầm que tre vót mỏng, gạch mấy nhát gọn ghẽ. Rồi bánh được xếp vô lò, lửa cháy hừng hực. Khi vỉ bánh chín được lấy ra, quét thêm lớp bơ mỏng, bánh vàng ươm, bóng nhẹ, mùi thơm bốc lên – đúng là bánh mì mới ra lò, không lẫn vô mô được.
Thời gian gần đây, nhiều lúc tôi tự hỏi: Phải chăng bánh mì đã nuôi tôi qua từng đêm, để khi ngồi suy ngẫm tôi mới hiểu ra rằng:
Bánh mì không phải thức ăn do ông cha ta truyền lại mà do người Pháp mang đến Việt Nam. Ấy vậy mà năm 2011, cái từ “bánh mì” tiếng Việt được nằm chễm chệ trong tự điển Oxford đó.
Thì ra, bánh mì đã đi vào đời sống tự bao giờ và nó còn dẫn dắt mình từ trong tiềm thức. Ngày ở vùng thung lũng điện tử, chúng tôi đang làm trong lĩnh vực High-Tech thì gặp mấy anh bạn người Việt gốc Hoa rủ làm kinh doanh thực phẩm. Thế là chúng tôi có ý tưởng “Tại sao không ứng dụng High-Tech vào Low-Tech”. Cũng nhờ ý tưởng đó mà công việc kinh doanh tốt lên rồi dẫn dắt đưa chúng tôi về Á châu tìm hiểu thị trường. Đó cũng là duyên số mở đường đưa chúng tôi về lại Việt Nam. Khi về Việt Nam chúng tôi lại chọn kinh doanh sơn. Mà sơn là một phần của hóa học, lãnh vực mà Đức và Hoa Kỳ đang có nhiều thành tựu dẫn đầu thế giới. Nên cái câu thần chú “Ứng dụng High-Tech vào Low-Tech vẫn còn ứng nghiệm”. Ổ bánh mì Việt Nam với bao nhiêu nhân từ bơ, phô mai, thịt nguội của phương Tây qua đến thịt quay, thịt nướng, xá xíu của người Hoa đến đồ chua, rau ngò,… đều được ổ bánh mì gói trọn mời khách. Chính ổ bánh mì Việt Nam đã gợi ý cho tôi câu slogan “Tuyệt phẩm Tây – kiệt tác Việt” trong kinh doanh sơn.

Màu làng quê
Làng tôi nằm bên dòng sông Bồ. Ngôi nhà ông bà nội tôi cũng ở đó. Ngày xưa, vào thập niên 60 của thế kỷ trước, làng tôi chưa có điện, chưa có nước máy. Vào thời gian đó, không ai nghĩ đến chuyện chọn sơn, phối màu cho nhà cửa như bây giờ. Màu sắc, nó đến một cách tự nhiên. Tường nhà quét vôi đã lâu, phai theo thời gian không đồng đều. Có chỗ ngả sang vàng nhạt vì nắng, có chỗ xám vì mưa. Mái lợp ngói từ đời mô, mỗi năm thêm một lớp rêu, xanh dần, sẫm dần. Không ai quét rửa, chẳng ai để tâm làm lại mới. Thời gian trải qua bao nắng mưa tự tay vẽ lên màu sắc của ngôi nhà.
Như sân trước nhà là màu đất nâu ngả đỏ, khi mưa xuống thì màu nó bị sậm lại còn lúc nắng lên thì nó nhạt bớt. Trên mặt sân, dấu chân người dẫn đàn trâu đạp lúa của những đêm trăng vẫn còn in chồng lên nhau như một thứ hoa văn không ai cố ý làm mà tự nó hình thành. Chung quanh nhà, mấy dãy cau sau vườn và hàng tre mọc dày. Tre ở biền trước mặt nhà bên dòng sông Bồ xanh hơn, cao hơn, rậm hơn. Mỗi khi gió thổi là nghe rõ tiếng lá xào xạc, nó tạo ra một sự chuyển động không ngừng nghỉ.

Những buổi sáng tinh sương, khi mặt trời chưa ló dạng, một màu trắng của sương phủ kín hết bờ tre. Dạo trưa tới, nắng lên rải vàng khắp ruộng đồng. Trong gió thoảng có quyện mùi thơm của lúa. Chiều về, khói lam từ bếp nhà của các o thôn nữ thổi cơm bay lên cao vút lẫn trong ánh hoàng hôn. Làng tôi đó, nó mờ đi trong một màu bảng lảng rất ư là Huế. Có những đêm trăng, cả làng như được phủ một lớp bạc mỏng mong manh sáng đủ để soi lối đi cho những cặp tình nhân dạo trên đường làng sau buổi cơm chiều. Những khoảng khắc ấy mới thấy dòng sông thật xanh và lặng lẽ trôi thật chậm như quyến luyến làng nước trước khi nó đổ ra biển.
Giờ ngồi đây hồi tưởng lại những vùng trời ký ức đó, nó cho ta một sự chiêm nghiệm rằng: Không có màu nào đứng riêng rẽ tách bạch một mình mà nó nương nhau. Tất cả được hòa quyện như đời sống của người dân trong làng với những cảnh sinh hoạt ở chợ hay những buổi lễ lớn ở đình và đặc biệt là cái không khí vui nhộn khi Tết sắp về.
Màu và mùi Tết trong ngôi nhà ông bà
Mỗi lần Tết đến, ngôi nhà ấy lại rộn ràng khi hai anh em chúng tôi về làng nghỉ Tết. Bà nội chúng tôi bắt đầu gói bánh. Màu xanh của lá dong trải đầy trên các khay. Màu trắng đục của nếp trong lu, trong hũ. Màu vàng của đậu xanh trong thúng, trong thau. Màu hồng nhạt của thịt mỡ trong tô, trong bát. Tất cả những thứ ấy đặt cạnh nhau, không cần sắp xếp mà tự nhiên hài hòa chi lạ. Liếc qua thôi là cũng đủ thấy đã con mắt rồi. Nhìn thôi là thấy Tết về tới nơi rồi.
Hai anh em chúng tôi luôn được cắt cử việc nhóm bếp lửa sau sân nhà. Từng gốc cây to được ông tôi vớt từ sông lên vào những lúc nước lớn kéo lũ về nay mới có dịp đem ra xài. Cả một vùng sân sáng lên với ánh lửa hồng. Tiếng củi cháy thiêu rụi những gốc cây cổ thụ có tuổi đời khá lâu tạo thành những âm thanh lúc mạnh lúc nhẹ kêu tanh tách. Nồi bánh chưng sôi lục bục suốt đêm. Khói bếp và lửa hồng quyện xông ra những mùi của lá dong, mùi của thịt và mùi nếp sắp chín. Tất cả những màu và mùi đó nó hòa quyện vào nhau tỏa lên bầu trời khuya trong yên tỉnh của làng quê tôi.
Khi gác việc kinh doanh mua bán ngoài chợ để vào bếp, bà nội tôi thường hay mặc áo nâu sồng. Chắc bà chọn cái màu nâu ấy để đỡ thấy dơ bẩn nhưng lạ thay, trong căn nhà ấy, dưới mái ngói rêu phong, màu nâu tuy không nổi bật nhưng lại rất hợp.
Trong các món bà nấu, tôi thích nhất thịt heo dầm nước mắm ăn với bánh chưng, bánh tét. Cái mặn thanh, cái béo vừa, cái bùi của nếp – ăn vô là thấy “đã” tới nơi. Bà nội thương, lén cho hai anh em tôi riêng mấy miếng, dặn nhỏ: “Ăn đi, đừng cho ông nội hay”. Nghĩ lại mà thương tới chừ.
O Út thì lo mứt gừng. Gừng phải cay mà không gắt, thơm mà có hậu ngọt. Không phải gừng mô cũng được, phải lặn lội lên tận thượng nguồn sông Bồ, nhờ người quen mua giùm. Những lát gừng non vàng nhạt, rim đường cho tới nhưng vẫn giữ được sự trong trẻo, ánh lên dưới nắng.
Dưa món thì o tôi nhờ bạn ở làng bên kia sông đặt mua giùm, vì nơi đó đất bồi nên củ cải với cà rốt tốt hơn. Sau khi thái mỏng, dưa món được phơi trước hiên, màu cam của cà rốt, màu trắng ngà của củ cải, màu xanh nhạt của cụ kiệu. Rồi xếp thành từng hũ, nhìn như một sự báo hiệu rằng xuân đã về, xuân tới rồi.
Tré thì bà nội đặt mối quen, vì sinh thời bà tôi là người buôn bán lớn, bà bỏ sỉ cho các tiểu thương của khắp các chợ từ Cù Bi, Hiền Sĩ, An Lỗ.
Đón Xuân này nhớ Xuân xưa
Giờ đây, mỗi lần về lại làng thấy nhà cửa mọc lên san sát. Đường xá đổi khác. Tường được sơn mới, màu sắc rõ ràng hơn, sáng sủa đẹp đẽ hơn. Nhưng mỗi lần đứng trước ngôi nhà cũ lòng tôi vẫn nặng trĩu. Có chút gì đó cay trong mắt, có chút gì đó buồn vương vấn mà không hiểu. Chắc có lẽ đó là những màu và mùi mà chúng tôi không bao giờ quên được.
Đó là màu của vôi cũ, màu của rêu phong, màu nắng, màu mưa, màu năm tháng, màu thời gian. Màu của thời thiếu thốn mà đủ, nghèo mà bình an và một thời thanh bình của quê hương tôi. Cái màu ấy không rực rỡ, nhưng bền, bền như nếp sống người dân làng tôi và tựa như giọng Huế có các âm huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã nghe không nhẹ chút nào nhưng mà nó rất thấm, rất sâu.
Có lẽ vì vậy, mà sau ni, mỗi khi nghĩ đến chuyện sơn sửa nhà cửa, tôi không xem đó chỉ là việc làm đẹp cho ngôi nhà mà muốn giữ lại cái nếp xưa, cái tinh thần cũ. Làm mới nhưng không làm mất cái hồn. Sơn lại để bảo vệ, để che chở, để ngôi nhà tiếp tục tồn tại theo thời gian như ngôi nhà của ông bà nội tôi vừa mới được ông anh tôi sơn sửa lại. Và vì thế chương trình Sơn Nhà Đón Tết – Sáng Cũ Chiều Mới với 69K/m2 mà Paint & More đang triển khai cũng không đi ra ngoài cái dư âm đó.
Đời sống bây giờ và nhịp sống của ngày hôm nay có nhanh hơn. Nhưng trong tôi, cái hồn Tết xưa vẫn còn nguyên.
Giờ ngồi đây, nhớ lại mùi bánh mì, nhớ màu ngôi nhà cũ, nhớ giọng nói, nhớ Tết xưa, tôi hiểu rằng, có nhiều thứ đã trôi đi theo thời gian. Nhưng mùi quê xưa, màu Tết xưa vẫn còn trong ký ức của tôi.
THEO KIẾN TRÚC & ĐỜI SỐNG SỐ XUÂN 2026