.jpg)
Những bức ảnh chụp khoảng 1954-1975, trong giai đoạn thành phố này là đặc khu giáo dục lớn của miền Nam, tôi thấy Đà Lạt có màu xanh của thông, những biệt thự ngã màu vàng hoài niệm và phố xá nhỏ nhẹ với tông trầm, vài nơi vẫn còn giữ nền vôi trắng phong lưu của thuở ban đầu… Vẫn vậy, dù đó là những bức ảnh đen trắng.
Màu xanh của thông, màu trắng hay vàng hoàng thổ của cửa nhà thấp thoáng được phủ lên một màn sương lam chướng luôn luôn có trong mọi thời khắc của ngày. Đó là Đà Lạt của hôm qua. Bấy nhiêu thôi, đủ để tạo nên sự bảng lảng mơ hồ như thực như mơ, như có như không, gợi vẻ quyến rũ mê đắm với khách xa đến, và quan trọng nhất, tạo cho những thị dân quen sống với thành phố này một cốt cách dung dị, một thế sống biết lùi khỏi mọi bon chen, huyên náo của thời cuộc, biết lẫn vào cảnh, hòa hợp với chung quanh. Khởi nguồn của bình an là được nương náu trong tự nhiên.
Đà Lạt từng yên tĩnh trong cái tâm cảnh, văn cảnh đó, như bài thơ lãng mạn mà cực thiểu chẳng rườm lời, như bản concerto mà thanh âm êm đềm du dương được tấu lên trong những trường đoạn lặng im. Người hòa vào cảnh, cảnh ôm lấy người. Phố bấy giờ là một nhất thể trọn vẹn. Mọi cửa nhà, biển hiệu, đường sá hay nói chung là công trình vật chất không làm cái việc nhọc công hãnh tiến trỗi vượt lên trên tự nhiên. Mà tự nguyện lãi rãi chìm đắm, như lấp lửng giữa thực và hư, hiện hữu đó mà sẵn sàng tan biến đó. Xứ sở đó, sao không sinh ra thi ca, triết học, âm nhạc; không trở thành đất hứa của những tình yêu, hẹn hò, những cuộc đeo đuổi sáng tạo được!
Trở lại khung cảnh mà những năm của thập niên 1930, sau cuộc gặp với Hàn Mặc Tử bên hồ Xuân Hương, thi sĩ Quách Tấn thuật lại: “Chúng tôi đang nói chuyện thì dường như có một luồng sáng từ trong hồ bay ra và thoáng nhẹ ở trước mắt. Chúng tôi chú mục: một đám sương lớn bằng một chiếc chiếu chõng, nổi lềnh bềnh trên mặt hồ. Sương mỗi lúc một vươn cao và lan rộng, phản chiếu ánh trăng sáng rực cả bốn bên. Trong phút chốc, mặt hồ bị khuất hẳn và trước mặt chúng tôi, nổi lên một ngọn “núi bông gòn” trắng phau và sáng ánh. Rồi một ngọn gió thổi nhẹ, sương ùn ùn tỏa ra khắp nơi… cuốn cả trời đất muôn vật. Chúng tôi không còn thấy gì, ngoài ánh sáng. Đến nỗi chúng tôi đứng sát bên nhau mà chúng tôi cũng không thấy rõ được nhau”. Trong cuộc gặp này, Hàn Mặc Tử nói một câu rất đắt, như gói gọn cả cái tâm hồn sâu thẳm của thị dân nơi đây: “Cảnh thật huyền mơ. Tiếng lòng lẫn cùng tiếng tạo vật. Con người hòa hẳn vào thiên nhiên!”.
“Con người hòa hẳn vào thiên nhiên”, gọi bằng ngôn từ kiến trúc, là xây dựng thành phố trong rừng, là xây nương theo cảnh, là kiến trúc hài hòa với địa hình. Cái tinh thần đó đi xuyên qua thời gian của những năm chiến tranh về sau, thì sự lịch duyệt “hướng Âu” thuở ban đầu vẫn được bảo lưu. Chính sách phát triển đô thị này thành đặc khu giáo dục và văn hóa, nông nghiệp và du lịch cao cấp được tính toán từ thời Hoàng Triều Cương Thổ, những năm đầu thập niên 1950 và kéo dài qua đệ nhất, đệ nhị Cộng Hòa. Khí hậu tự nhiên đã ôm vào, ấp ủ trong nó một bầu khí hậu văn hóa ưu việt. Khí hậu văn hóa, triết lý phát triển cũng không tự ruồng rẫy khỏi bối cảnh mà nương theo “bối cảnh mẹ” để nâng cao về giá trị. Màu Đà Lạt thời bấy giờ vẫn giữ được sự hòa hợp, vừa thấp thoáng chút hương xa, vẫn ổn định một tông trang nhã. Từ màu vôi nhà, cửa hiệu, quán sá,… không chói gắt, quá lố vì cư dân hiểu rằng, nếu rắp tâm chơi trội sẽ bị chỏi đi, lạc loài ngay.
.jpg)
.jpg)
.jpg)
Từ thập niên 50 triết lý xây dựng Đà Lạt là “Con người hòa hẵn vào thiên nhiên” là xây dựng thành phố trong rừng, là xây nương theo cảnh, là kiến trúc hài hòa với địa hình
Hôm nay, vẫn mang tâm thế ấy, những cư dân năm xưa rút vào trong để bảo dưỡng không gian thuần khiết cho mình, như một cách thế giữ mình trước những cuồng khấu đổi thay. Như những con ốc giấu mình trong lớp vỏ mỏng manh trước muôn trùng biển động. Vỏ ốc của người Đà Lạt là những mảnh vườn nhỏ, những hàng rào tường vi bất khả xâm phạm, những giậu hoa âm u, những khoảng sân đổ rêu xanh và trơn ướt sau một cơn mưa đêm. Tôi đã biết có những người không buồn ra đường. Họ lặng lẽ, thấp thoáng sau những cánh cửa sổ xanh, những tàng lá lòa xòa trên những nhà gỗ, biệt thự quanh năm chưa từng mở toang cửa. Họ mặc kệ những điều tiếng mà người khác trông vào quang cảnh dịch vụ chụp giật mà nói về mình, xúc phạm mình một cách oan uổng. Họ không minh oan, không giải thích. Họ giữ cái tông màu trầm mặc của thành phố, thách thức mọi đổi thay. Văn nhân nào đó đã nói rằng, sự lặng im sẽ cứu thế giới chứ không phải những chộn rộn. Tôi hiểu rằng, những lặng im ngày càng ít ỏi mà đầy trân quý này đang cứu Đà Lạt, để Đà Lạt được còn chút gì là mình.
Vì vậy tôi đâu có buồn vì cái bức tường phía trước cà phê Tùng một sáng ghé qua thấy chói gắt một màu vàng nóng bỏng như đường phố bên Nam Mỹ. Tôi đâu có buồn vì những băng rôn khẩu hiệu chằng chéo phủ đầu những biệt thự, dinh thự, cửa hàng, mái chợ ở khu Hòa Bình. Tôi đâu có buồn bởi khắp nơi, những bảng hiệu mọc lên cũng thích khoác lên những màu rợ. Phải thôi, thông không còn, có ai nhắc nhở để những người làm dịch vụ hãnh tiến biết rằng, giá trị là màu xanh. Dọn sạch thiên nhiên là dọn sạch điều cốt lõi làm nên giá trị của một đô thị được xác lập ngay từ đầu. Hồn cốt đã bị phá hủy, thì trách chi những mảng màu trên hình thái cửa nhà nhăng nhố kia trở nên tột đỉnh của nhố nhăng?
Nhưng tôi đâu có buồn. Tôi như những con ốc lầm lì đi tìm cái cõi miền xanh ngát trong tâm tưởng qua những vùng tự trị còn sót lại ở những nhà, những vườn, những cảnh, những cư dân rụt rè và thượng thừa năng lực và bản lĩnh lặng im. Tôi tìm ở trong ánh mắt thấp thoáng chút e dè với kẻ lạ, trong phong thái lịch thiệp nhã nhặn xưa cũ một di chỉ của thuở vàng son đã vắng.
Bạn nói tôi buồn và hay chìm đắm trong hoài niệm, nhưng bạn có tin không, tôi đâu có buồn. Vì tôi tìm thấy Đà Lạt còn đó, nhỏ nhoi, mong manh, dạt trôi.
.jpg)
.jpg)
.jpg)
Người Đà Lạt đang im lặng. Những lặng im ngày càng ít ỏi mà đầy trân quý này đang cứu Đà Lạt, để Đà Lạt được còn chút gì là mình
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 134