Bà con xem phối cảnh chung cư SCREC tại lễ khởi công ngay bên bờ kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè thuộc phường 12, quận 3, TP. Hồ Chí Minh, ngày 23.4.2002. Ảnh N.C.T
Nếu tính mốc từ quyết định 3597/QĐUB ngày 5.8.1996 của UBND thành phố về đền bù di chuyển toàn bộ nhà ở, vật kiến trúc trên và ven kênh… thì đã là 20 năm, nhưng nếu tính từ lúc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình kênh rạch thành phố ngày 15.3.1993 thì đã 23 năm. Năm 1993 là năm bắt đầu tiến hành dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè, một năm sau khi ông trở thành Kiến trúc sư trưởng đầu tiên của TP. Hồ Chí Minh, năm 1992. Hơn 20 năm rồi, ông nhớ nhất điều gì về những ngày ban đầu ấy?
Tôi nhớ lại và thấy cảm động xiết bao trước tinh thần làm việc của đội ngũ thực thi dự án. Thành phố thành lập Ban chỉ đạo từng cấp tương ứng từ thành phố đến quận, huyện và các đơn vị liên quan. Thường trực Ban chỉ đạo và cán bộ chuyên trách (có đường dây nóng) cập nhật và kết nối được thông tin nhanh từ nhiều nguồn để xử lý kịp thời, giảm ách tắc công việc. Có thể nói lãnh đạo sâu sát, cán bộ chuyên trách tận tụy, tạo ra một không khí làm việc trách nhiệm và hiệu quả. Tôi nhớ mãi Ban chuyên môn phụ trách giải tỏa, bồi hoàn, tái định cư gần như lúc nào cũng bám sát hiện trường, xử lý nhanh những phát sinh. Thực hiện công việc di dời tái định cư cũng cần xác nhận sự kiên trì của các đoàn thể, đặc biệt là Mặt trận tổ quốc và Chính quyền địa phương trong vận động dân, tạo được sự đồng thuận với bà con. Nhớ lại thời điểm ấy, sao mà gian truân quá nhưng với lòng quyết tâm vì thành phố thân yêu và đời sống của nhân dân, chúng ta đã vượt qua tất cả. Một trong những thành công của dự án mà nhiều người thừa nhận là tạo được sự đồng thuận và sự hợp tác của bà con đang sinh sống tại chỗ. Muốn có được sự đồng thuận của bà con thì không gì khác hơn là thông tin kịp thời, đầy đủ, rõ ràng, làm cho bà con tin tưởng về chỗ an cư mới và thấy được lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi gia đình cũng như lợi ích chung của cả thành phố. Để có được kết quả ấy, thành phố đã có phương án di dời tái định cư chu đáo, chuẩn bị sớm phương án quy hoạch. Nói đến đây, tôi muốn nhấn mạnh đến sự ủng hộ của Trung ương.
Ý ông muốn nói đến vai trò của Chính phủ? Chính phủ có vai trò, giải quyết vấn đề gì đối với một dự án cụ thể của địa phương?
Có thể nói ngay là không có sự ủng hộ của Nhà nước và Chính phủ thì không thể làm được. Thủ tướng Chính phủ thời điểm đó là đồng chí Võ Văn Kiệt. Đồng chí đã có quá trình làm việc tại địa phương nên nắm rõ vấn đề. Định hướng cải tạo kênh rạch và chỉnh trang đô thị lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã được đưa vào danh sách ưu tiên trong tám chương trình trọng điểm được kiến nghị trong đồ án quy hoạch Tổng mặt bằng TP. Hồ Chí Minh mà Thủ tướng phê duyệt ngày 6.1.1993. Bây giờ đã hơn 20 năm, các chính sách như hóa giá nhà, tạo quỹ để cải tạo và chỉnh trang đô thị, đổi đất lấy hạ tầng, thậm chí là xã hội hóa đầu tư nhà ở… đã được tổng kết, được nhắc tới nhiều nên nghe thì có thể thấy là bình thường nhưng ở thời điểm 1993-1996, đó là tư duy mới. Thời điểm ấy, thành phố đã sáng tạo dùng quỹ nhà từ Sở Nhà đất để có ngay nơi ở mới cho nhiều bà con, thành phố còn tạo điều kiện cho bà con có chỗ tạm cư nếu có nhu cầu, giảm bớt khó khăn cho nhiều người trong lúc công trình đang thực hiện. Đồng thời tạo thêm quỹ đất tại chỗ hoặc gần đó để xây dựng mới nhiều chung cư phục vụ dự án. Chính phủ chấp nhận miễn tiền sử dụng đất và đồng ý cho mượn quỹ hóa giá nhà để cho các đơn vị vay thực hiện các dự án. Nếu không có chủ trương này thì lấy gì để xây nhà tái định cư cho bà con ở thời điểm đó? Tôi thấy quý nhất ở đây là các cấp, các ngành thống nhất được tinh thần, cái gì có lợi cho dân thì quyết liệt tập trung tối đa để làm cho bằng được.
.jpg)

Trong các đồ án quy hoạch TP. Hồ Chí Minh, đặc thù của một thành phố sông nước luôn được Chính quyền quan tâm
Năm 1986 được ghi nhận là mở đầu đổi mới, năm 1995 bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè khởi đi trong bối cảnh đó, hẳn cũng là điều thuận lợi?
So với sau này, khi thành phố tổ chức các cuộc thi quốc tế về thiết kế quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm, khu trung tâm hiện hữu TP. Hồ Chí Minh thì thời điểm làm dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè chưa bài bản bằng. Tuy nhiên, ta cũng có cơ hội mời các chuyên gia nước ngoài góp ý về quy hoạch cảnh quan đô thị, cải tạo môi trường. Ta đã có cơ hội tìm hiểu kinh nghiệm của Singapore thông qua sự giúp đỡ của GS. TS. KTS Liu Thai Ker. Ta cũng nghe góp ý của GS. John Lund Kriken, lãnh đạo của tập đoàn SOM chịu trách nhiệm thiết kế - quy hoạch trong đồ án Phú Mỹ Hưng và Nam Sài Gòn. Theo đó, khi giải quyết công việc tại Nhiêu Lộc - Thị Nghè, ta đã xác định cụ thể biên chỉnh trang và hành lang an toàn (còn gọi là biên kỹ thuật) theo nguyên tắc đã được chấp thuận, vừa có thể xem xét ứng phó với thực tế khi phát sinh. Đây là việc phức tạp dễ nảy sinh sự không hài lòng từ nhân dân, đòi hỏi giải quyết linh hoạt. Tôi nhớ mãi sự trân trọng của các vị chức sắc những cơ sở tôn giáo liên quan trong dự án khi Chính quyền có những xử lý cụ thể như nắn đường biên chỉnh trang để có thể giảm tối đa chuyển dời chùa chiền. Các vị chức sắc đó đã bày tỏ sự cám ơn và hết lòng hợp tác với Chính quyền. Để làm được điều đó, thành phố đã chỉ đạo làm thật kỹ từ khâu điều tra khảo sát hiện trạng nhà cửa và các công trình liên quan gắn với lợi ích của người dân. Ta có tới vài giải pháp về bố cục quy hoạch kiến trúc và cảnh quan theo tuyến kênh rạch để gắn kết chặt chẽ với các yêu cầu xử lý kỹ thuật kết nối giao thông cùng với thoát nước dọc tuyến và khu vực xung quanh, có tính đến yêu cầu lâu dài về xử lý nước thải sinh hoạt.
Nhưng một số điều mà chúng ta mong muốn vẫn chưa thực hiện được ở dự án này?
Thành phố đặt ra biện pháp giải tỏa đợt 1 (biên kỹ thuật) và đợt 2 (biên chỉnh trang) cho dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè với quyết tâm cao để kết hợp tạo cho bộ mặt kiến trúc dọc tuyến thêm khang trang, phong phú và hài hòa. Tiếc rằng năng lực tài chánh và khả năng vận động đợt 2 đã không thành công. Sau khi giải tỏa biên kỹ thuật, các hộ dân trên biên chỉnh trang đã tự sửa chữa, xây dựng nhà ở của mình, thậm chí không chờ có giấy phép xây dựng. Việc này ảnh hưởng đáng kể đến bộ mặt kiến trúc - cảnh quan dọc kênh hiện nay. Tôi cũng đồng ý với nhiều ý kiến của các đồng nghiệp là tỷ lệ người tái định cư tại chỗ còn ít do chưa có cách tổ chức cuộc sống phù hợp hơn với họ. Có lẽ đó là hai điều đáng tiếc nhất ở dự án này.
Ông có tin là những điều đáng tiếc đó sẽ được khắc phục ở những dự án sau này, đặc biệt là những dự án mới được triển khai trong chương trình đột phá thứ 7 của thành phố?
Hiện nay chúng ta đã có nhiều chuyên gia kỹ thuật và kiến trúc sư có khả năng nghiên cứu, vừa có kinh nghiệm tham gia những dự án tương tự ở trong và ngoài nước đã nêu lên những sáng kiến, những ý tưởng hay, táo bạo và cũng rất khả thi. Các giải pháp khi lập thiết kế đô thị dọc tuyến có sự mềm dẻo của biên chỉnh trang hứa hẹn những thành quả mới không riêng cho không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị mà sẽ tích cực góp phần đắc lực trong việc mời chào đầu tư vào các dự án thuộc khu vực liên quan đến kênh rạch. Từ ý tưởng và chủ trương này chắc chắn sẽ mở ra nhiều khả năng tạo vốn xã hội hóa ngoài ngân sách phục vụ cho chương trình kênh rạch đang triển khai. Kết hợp được chương trình chỉnh trang đô thị với những dự án bất động sản khi các giải pháp quy hoạch phù hợp, sẽ có khả năng sinh lợi thì chắc chắn sẽ kêu gọi được các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính vì những điều này mà tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự thành công của chương trình chỉnh trang đô thị sắp tới của thành phố sẽ được triển khai tốt hơn hẳn so với thời kỳ trước.
Một số KTS đã đưa ra quan điểm, nhận thức rằng, hệ thống kênh rạch nói riêng, hệ sinh thái sông nước nói chung của thành phố ta, của Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh phải được coi là di sản quý giá của thành phố. Ông có đồng ý với điều đó?
Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến này. Hệ thống kênh rạch chằng chịt, sông nước nói chung đã tạo ra hệ sinh thái thiên nhiên gắn liền với Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh từ khi mới hình thành và trong suốt quá trình phát triển sau này. Từ quy hoạch tổng mặt bằng lần đầu năm 1993 tới các quy hoạch sau này, đặc biệt là ở đồ án quy hoạch Thủ Thiêm, đồ án quy hoạch khu trung tâm hiện hữu, khu đô thị Phú Mỹ Hưng, phát triển Nam thành phố, đặc thù sông nước đã được chú trọng. Sông nước tạo ra hình ảnh đặc trưng làm cho thành phố chúng ta khác với nhiều thành phố trong nước và trên thế giới. Sông nước với cảnh quan “trên bến dưới thuyền” đặc trưng của thành phố ta, một hình ảnh tiêu biểu đã trở thành ký ức khó phai trong chúng ta về “văn minh sông nước Nam bộ”. Đó chính là ý nghĩa lịch sử, là bề dày văn hóa của di sản sông nước. Coi sông nước là di sản của thành phố sẽ nâng tầm những công việc chúng ta đang làm, tạo ra thái độ ứng xử khoa học và đúng mực với thiên nhiên, với cảnh quan môi trường, với văn hóa và lịch sử nói chung. Nếu Nhiêu Lộc - Thị Nghè mới giúp ta hình dung được phần nào hình ảnh thì dự án cải tạo kênh Tàu Hủ - Bến Nghé cùng với việc hình thành đại lộ Võ Văn Kiệt đã phục hồi rõ nét hơn hình ảnh “trên bến dưới thuyền” của thành phố chúng ta. Tôi hy vọng những dự án kênh rạch của chương trình đột phá thứ 7 về chỉnh trang đô thị sẽ làm sống lại và phát triển hơn nữa hình ảnh Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh, đặc trưng của văn minh sông nước Nam bộ.
Hai giai đoạn cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có dòng chảy chính dài hơn 10 km, là dòng kênh tự nhiên phía Bắc nội thành của Sài Gòn xưa. Từ 1954 đến 1975 đã có nhiều đợt người dân vào sinh sống trên và khắp lưu vực kênh. Sau năm 1975, nhiều gia đình đi kinh tế mới quay về đã cắm cọc trên kênh làm nhà ở. Đến năm 1992, trong lưu vực kênh 3.324 ha (chiếm 24% diện tích 12 quận nội thành) đã có hơn 900.000 người sinh sống. Nước thải sinh hoạt và công nghiệp đổ thẳng xuống kênh. Tình trạng nhà ở tồi tệ, tạm bợ, dễ cháy, không có nhà vệ sinh, không có nước sạch (trừ nước ăn uống), nhưng bình quân cũng chỉ có 3m2/người; 45% nhà chưa có chủ quyền hợp pháp. Dự án cải tạo kênh rạch và chỉnh trang đô thị hệ thống Nhiêu Lộc - Thị Nghè chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn I, từ 1993 đến 1998 là Dự án cải tạo kênh và chỉnh trang đô thị dọc kênh Nhiêu lộc - Thị Nghè, với vốn ngân sách thành phố khoảng 1.015 tỷ đồng; Giai đoạn II, từ 2002 đến 2020 là Dự án Vệ sinh môi trường TP. Hồ Chí Minh (lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè) với kinh phí 200 triệu USD. (1)
Hai mục tiêu của chương trình Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Mục tiêu xã hội: Xây dựng nhà ở, đền bù di chuyển tái bố trí 11.423 hộ với 68.538 nhân khẩu sống trên và ven kênh, giải quyết chỗ ở ổn định, góp phần an cư lạc nghiêp cho bộ phận dân cư này; làm tăng quỹ nhà ở và góp phần giảm mật độ dân cư nội thành;
Mục tiêu môi trường: Cải tạo, xây dựng, nâng cấp toàn bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật tuyến kênh; giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường, tiêu thoát nước, điều hòa khí hậu, tạo trục cảnh quan đô thị và tăng cường giao thông nội thành cho lưu vực hơn 3.300 ha và dân số khoảng 900.000 người. (2)
12.339 căn hộ phục vụ tái định cư
Về tái định cư, ngày 1.4.1995 UBND thành phố ban hành Quyết định số 2441/QĐUB-KT giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các đơn vị xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư. Cụ thể, Q.1: 1.300 căn, Q.3: 2.000 căn, Phú Nhuận: 1.300 căn, Bình Thạnh: 1.200 căn, Tân Bình: 1.200 căn và Sở Nhà đất 1.000 căn (để hỗ trợ cho Q.1 và Q.3). Các quận và Sở Nhà đất đã chủ động tìm địa điểm, lập 65 dự án khai thác quỹ đất, lấy kinh doanh bù đắp chi phí đền bù và hạ giá thành căn hộ. Kết quả đã xây dựng dược 12.339 căn hộ phục vụ tái định cư cho dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè và Chương trình kênh rạch thành phố. (3)
(1) (2) (3) Trích dẫn theo sách “40 năm, Quy hoạch & kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh - thành tựu, kinh nghiệm, vấn đề và giải pháp”, NXB Hồng Đức, Hội Quy hoạch & Phát triển đô thị cùng Hội Kiến trúc sư TP. Hồ Chí Minh xuất bản, quý 1. 2015.
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 128