Kiến trúc sư trưởng Lê Văn Năm trình bày với Thủ tướng Võ Văn Kiệt về dự án quy hoạch khu trung tâm thành phố năm 1998. Ảnh Trần Tiến Dũng
Đầu tiên, đó là chuyện ra đời của những công viên. Bạn trẻ bây giờ có lẽ ít hình dung sau thống nhất (30.4.1975), trong nội thành còn tồn tại nhiều nghĩa trang, nghĩa địa. Khoảng năm 1977, khi đồng chí Võ Văn Kiệt đang làm Bí thư thành ủy, một hôm ông giao bên quân đội bố trí trực thăng để cùng nhóm kiến trúc sư chúng tôi quan sát và chụp hình thành phố từ trên cao.
Ý tưởng hình thành công viên Đầm Sen, công viên Chiến Thắng (hiện là công viên Hoàng Văn Thụ), công viên hồ Kỳ Hòa, công viên Bình Tiên - Bình Phú, công viên Lê Văn Tám, công viên Lê Thị Riêng… bắt đầu từ chuyến bay này. Lúc đó, đa số mặt bằng các công viên vừa kể trên là đất nghĩa trang hoặc nghĩa địa tồn tại từ nhiều năm trước. Bây giờ nhắc lại thì thấy đơn giản nhưng ở thời điểm đó, cần phải có một tầm nhìn xa và quyết liệt thì mới thực hiện được. Quá trình thực hiện cũng phải mất nhiều năm. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi giữa quận 1 được chuyển đổi thành công viên Lê Văn Tám. Phần lớn vùng đất thuộc công viên Đầm Sen ngày nay là nghĩa địa Quảng Đông, khi quyết định quy hoạch, dọn dẹp làm công viên, thành phố đã phải huy động nhiều nguồn lực kể cả sức dân lao động tình nguyện để có công viên. Vùng đất công viên Lê Thị Riêng nguyên là nghĩa trang Đô Thành. Sau khi có chủ trương, tôi nhớ một số đơn vị có ý kiến đề nghị biến vùng này thành đô thị với nhà ở, xưởng sản xuất. UBND thành phố đang cân nhắc ra quyết định. Tuy nhiên, giới chuyên môn kiến trúc không đồng ý với đề xuất này và đã cùng với các đồng chí lãnh đạo quận 10 lúc bấy giờ (anh Tư Biên, bí thư; anh Năm Thái, chủ tịch) cấp báo lên lãnh đạo thành phố, cuối cùng phương án làm công viên đã được phó chủ tịch thành phố Nguyễn Văn Nam phê duyệt, phần sản xuất chỉ còn một phần nhỏ thuộc Legamex sau này.
Công trình thứ hai là nhà máy thủy điện Trị An. Cuối thập kỷ 70, thành phố ta bị rơi vào trình trạng thiếu điện trầm trọng, thậm chí đã phải luân phiên cắt điện đến 4-5 ngày trong tuần. Thành ủy đã “đấu tranh” với trung ương để đưa việc xây nhà máy thủy điện Trị An vào công trình trọng điểm. Chủ trương thì có nhưng nguồn lực thì chưa. Thành phố không chịu khoanh tay ngồi chờ. Nếu như đồng chí Võ Văn Kiệt là người khởi xướng, thì thiếu tướng Trần Văn Danh, nguyên phó chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh sau làm thứ trưởng Bộ Điện lực là những người đã trực tiếp đưa ra nhiều giải pháp đột phá. Từ năm 1982, phong trào ủng hộ thủy điện Trị An trong nhân dân được phát động, nguồn lực tài chính được huy động chiếm đến 1/5 tổng chi phí đầu tư. Các chuyên gia Liên Xô cũng giúp đỡ nhiều về kỹ thuật. Bản thân tôi cũng thường xuyên có mặt ở Trị An làm việc. Năm 1984 khởi công, 1987 bắt đầu phát điện, 1989 hoàn thành. Nhà máy thủy điện Trị An với công suất 400 MW đã có đóng góp cực kỳ quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới 1986. Nếu lúc đó cứ câu nệ chuyện ranh giới địa phương, ngồi chờ vốn, chờ chủ trương mà không nỗ lực chủ động tìm giải pháp đột phá thì không thể có được Trị An.
Một công trình nữa mà tôi muốn nhắc đến là đại lộ Đông Tây nay là đại lộ Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ kết nối từ nút giao quốc lộ 1 ở Bình Chánh đi dọc kênh Tàu Hủ - Bến Nghé qua sông Sài Gòn nối với xa lộ Hà Nội tại nút giao Cát Lái.
Muốn thấy được ý nghĩa của đại lộ Đông Tây thì phái nhắc đến kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, là dòng kênh chạy dọc từ quận 1, 4, 5, 6, 8 xuống Tân Phú, Bình Tân. Tuyến kênh này đã từng là một tuyến giao thông đường thủy huyết mạch tạo điều kiện thông thương cho các thương gia vận chuyển lúa gạo, trái cây… từ miền Tây lên Sài Gòn từ những năm 1950. Do ảnh hưởng bởi chiến tranh, tình hình kinh tế khó khăn, dòng kênh này đã bị bỏ quên đến mức còn được gọi là “dòng kênh chết”.

Đua ghe trên kênh Tàu Hủ
Sau này có tờ báo đã gọi đại lộ Đông Tây là con đường chạy qua “lịch sử 300 năm của thành phố chúng ta”. Tôi thì lại muốn nhấn mạnh đến “độ dài” thời gian mà con đường đã “chạy qua” trong suốt quá trình hình thành. Việc nghiên cứu tuyến đường chạy dọc kênh này có từ đầu thập niên 1990 và chủ trương đã có trong quy hoạch Tổng mặt bằng thành phố Hồ Chí Minh lần 1 năm 1993. Tôi nhớ, ý kiến chỉ đạo lúc bấy giờ là với đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, đường vành đai là không thể thiếu, nhưng đường xuyên tâm cũng rất cần thiết. Bản thân việc chọn làm tuyến đường xuyên tâm cùng lúc với các tuyến vành đai đã là một quyết tâm trong quy hoạch. Trong điều kiện và thời điểm đó, chủ trương làm cầu Thủ Thiêm được coi là bất khả thi vì lý do quân sự, thì phương án hầm dìm cũng thể hiện sự táo bạo và quyết tâm của thành phố trong đó vai trò cá nhân lúc ban đầu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt - nguyên bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh là rất lớn. Năm 2000, công trình đại lộ Đông Tây được Thủ tướng phê duyệt, sau 4 năm đền bù giải tỏa, năm 2005 bắt đầu thi công, năm 2009 khánh thành.
Nay thì mọi người đều đã thấy rõ lợi ích của đại lộ Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ. Tuyến đường không chỉ thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kinh tế phát triển mà còn góp phần cải tạo môi trường ven kênh rạch, vốn đã ô nhiễm từ nhiều năm trước. Về kiến trúc cảnh quan, tuyến đường này đã tạo nên hình ảnh đô thị mới với rất nhiều công trình hiện đại đang mọc lên cả hai bên bờ kênh. Không phải là tất cả mọi mong muốn đều đã thực hiện được nhưng ngay hai bên đại lộ này, một số công trình có giá trị kiến trúc lịch sử cao như Cầu Móng, tòa nhà trụ sở Ngân hàng Nhà nước thành phố, tòa nhà Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố… đã được bảo tồn. Cảnh trên bến dưới thuyền với những hoạt động buôn bán, văn hóa đặc trưng sông nước Nam bộ đang từng bước được tổ chức, phục hồi.
Những công trình mà tôi vừa nhắc ở trên đều có chung đặc điểm, thể hiện bước chuyển rõ ràng về nhận thức trong tư duy để đưa ra phương án có tính đột phá, làm thay đổi cục diện; Khi đã có chủ trương rồi thì lãnh đạo quyết liệt trong chỉ đạo, các ngành các cấp cũng quyết tâm thực hiện trong sự đồng thuận cao của dư luận xã hội.
Đó là đặc điểm chung của những công trình mang tính đột phá đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của thành phố chúng ta. Ngày xuân nhắc tới chuyện xưa để thêm tin tưởng vào những bước đột phá sắp tới của thành phố, khi đã có cơ chế đặc thù.
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 141