Chỉnh trang đô thị - là cơ hội là tìm lại nét đẹp Sài Gòn xưa
Không nên có một kịch bản chung cho tất cả mọi dòng kênh
Với lịch sử phát triển và đặc thù sông nước vùng Tây Nam bộ nói chung và Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh nói riêng, hệ thống giao thông đường thủy và các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt gắn liền với con nước từ lâu đã là đặc trưng riêng vùng sông nước Nam bộ này.
Theo tiến trình phát triển, dưới tác động của nhiều yếu tố, tình trạng các cộng đồng “kênh rạch” trở nên nhếch nhác, thiếu kiểm soát, lan rộng khắp các kênh rạch trong nội thành Sài Gòn từ những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước và xu hướng tỏa ra các khu vực ngoại thành những năm gần đây hơn tại TP. Hồ Chí Minh là một minh chứng cho điều này.
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên và xã hội, cải thiện cảnh quan sông rạch đồng thời thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế, một số các dự án cải tạo kênh rạch đã và đang được nghiên cứu thực hiện, phần lớn hướng theo một kịch bản chung: (1) Giải tỏa trắng nhà ở trên kênh rạch, (2) Xây dựng đường dọc kênh rạch, và (3) Cải tạo kiến trúc ven kênh rạch, thu hồi và tái điều chỉnh sử dụng đất, dành đất cho các dự án phát triển mới.
Tuy nhiên, mỗi con kênh tại TP. Hồ Chí Minh có vai trò rất khác nhau trong suốt quá trình hình thành, và phát triển của Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, nhà ở trên và ven kênh rạch cũng mang những giá trị khác nhau, đòi hỏi các giải pháp tác động cũng cần linh hoạt, khó có thể áp dụng một khuôn mẫu 3 hướng tác động phổ biến trên. Ví dụ cụ thể là qua dự án đại lộ Đông Tây, tuy đã làm thay đổi bộ mặt đô thị khu vực bờ kênh Tàu Hủ - Bến Nghé theo hướng văn minh, hiện đại, nhưng đồng thời việc giải tỏa hơn 20.000 hộ dân và bố trí tái dịnh cư cho cộng đồng trên kênh rạch vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Ngoài ra, việc lúng túng trong cải tạo phát triển không gian thời kỳ “hậu làm đường”, hay việc phá hủy nhiều công trình kiến trúc có giá trị… là các điểm trừ của dự án.
Vấn đề đặt ra là nếu các giá trị đặc trưng không gian đô thị ven kênh rạch không được nhận diện bài bản, khó có thể thuyết phục và đòi hỏi việc các giá trị này được quan tâm, gìn giữ và phát huy. Việc nhận diện các giá trị phải được thực hiện toàn diện, kỹ lưỡng cho các đối tượng vật thể và phi vật thể trong khu vực; ngoài các giá trị đơn lẻ, yếu tố nhóm/cụm và quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố này cũng cần được quan tâm xem xét.
.jpg)

Yếu tố kênh rạch chi phối bản sắc không gian đô thị Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh thông qua cả 3 chiều không gian
Nhận diện yếu tố chi phối bản sắc không gian đô thị Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh
Trong nhận diện đặc trưng không gian một khu vực trong đô thị, bên cạnh việc đánh giá không gian vật thể thì việc khảo sát, định vị những hoạt động và ý nghĩa trong/từ không gian đó là hết sức cần thiết, bởi có như thế các yếu tố chi phối bản sắc không gian mới được hiểu đầy đủ và có cơ sở.
Quay lại vấn đề kênh rạch tại TP. Hồ Chí Minh, thật dễ dàng nhận thấy kênh rạch chi phối không gian đô thị thể hiện từ sự phân bố dày đặc các con sông, rạch, kênh, đến các cây cầu, con đường có tên bắt đầu từ “bến” (bến Nhà Rồng, bến Chương Dương, bến Vân Đồn, bến Hàm Tử,…), đến các lớp nhà bám theo kênh rạch mà hiện nay việc giải tỏa chỉ còn là sớm hay muộn. Hay việc sử dụng phổ biến cụm từ ghép “kênh rạch” vốn là 2 từ chỉ trạng thái “nhân tạo” (kênh) và “tự nhiên” (rạch) của con nước...
Theo khảo sát năm 2009 (Vu, 2010) về “chiều cảm nhận” của không gian ven kênh rạch, lấy ví dụ là kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, có một số kết quả nhận định như sau:
- Không phân biệt nguồn gốc, giới tính, nghề nghiệp, vai trò trong xã hội, và nơi ở, phần lớn người tham gia trả lời đều cho rằng kênh rạch giữ vai trò quan trọng trong đặc trưng không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh từ những ngày đầu hình thành tới nay. Nó chi phối sự hình thành - biến đổi cả 3 chiều không gian thông qua đa dạng các yếu tố cấu thành bản sắc không gian đô thị nơi đây.
- Nhà ở trên kênh rạch, và không gian mở công cộng dọc sông/kênh/rạch góp phần quan trọng làm nên đặc trưng hình thái không gian đô thị nói chung và khu vực ven kênh rạch nói riêng. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay chưa thể hiện rõ tầm quan trọng ngược lại còn làm mất hoặc sai lệch giá trị không gian đô thị.
- Người dân dễ dàng chấp nhận các giải pháp tạo ra không gian xanh, sạch, đẹp, tạo điều kiện cho đa dạng các hoạt động dọc hai bên bờ và trên kênh rạch (chiều không gian vật chất và hoạt động) của người dân được diễn ra; tuy nhiên, chiều không gian cảm xúc chỉ đạt được khi hình ảnh (vật chất và hoạt động) họ cảm nhận được nét thân quen.

.jpg)
.jpg)

Một số giải pháp lựa chọn cho đường dọc kênh Ảnh dưới Mối quan hệ quy mô thửa đất, mật độ xây dựng và không gian mảng xanh, công cộng: a/ lô đất (thương mại hay ở) nhỏ, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở công cộng; b-c/ Lô đất (thương mại hay ở) lớn, mật độ xây dựng thấp, còn đất cho không gian mở công cộng, mảng xanh
Hướng đi nào cho không gian khu vực kênh rạch tại TP. Hồ Chí Minh?
Quay lại 3 vấn đề mà hiện nay hầu hết các khu vực ven kênh rạch gặp phải:
Giải tỏa trắng nhà trên kênh rạch: câu hỏi đặt ra là “Liệu nhà ở trên kênh rạch có phải là yếu tố đặc trưng cần gìn giữ trong không gian kiến trúc cảnh quan đô thị TP. Hồ Chí Minh?”. Với kết quả khảo sát trên, rõ ràng việc giải tỏa trắng nhà trên kênh rạch cần phải được xem xét kỹ hơn nhằm giữ được giá trị đặc trưng không gian đô thị Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh.
Mở đường dọc kênh/rạch: Cũng theo kết quả nghiên cứu năm 2010, mạng lưới đường nói chung và đường dọc kênh nói riêng, dù ít nhiều bị chi phối bởi con nước, lại ảnh hưởng không nhiều đến đặc trưng không gian đô thị nơi đây. Ngoài ra, việc xuất hiện một con đường sẽ hạn chế tiếp cận với bờ kênh, con nước, dẫn đến hạn chế hoạt động công cộng và giao thương đường thủy. Đường càng to, vận tốc xe cơ giới cho phép lưu thông càng lớn, hạn chế này càng nghiêm trọng. Vì vậy, không nhất thiết phải mở đường dọc sát kênh rạch. Việc xây dựng đường dọc kênh cần phải được xem xét kỹ lưỡng nhằm hướng tới việc giải quyết vấn đề giao thông (đường bộ và đường thủy, cho khách và hàng hóa), tiếp cận ra bờ nước, và chức năng cũng như hình thức kiến trúc công trình, hạ tầng, trang thiết bị đô thị liền bên.
Kiến trúc ven kênh rạch Có thể xảy ra 3 trường hợp:
Bảo tồn các công trình “di sản”: đoạn bờ kênh Bến Nghé khu vực Q.1 (tòa nhà Ngân hàng Nhà nước, cấu Móng, Trung tâm Hội nghị Diên Hồng), hay đoạn khu vực cầu Ông Lãnh và Q.5 với các dãy nhà 2 tầng đặc trưng kiểu Hoa - Việt, khu vực bến Bình Đông, Q.8…
Chỉnh trang: áp dụng các khu vực có phần lớn đất/nhà thuộc sở hữu riêng lẻ, khó thu hồi, nhập thửa: trường hợp này khá phổ biến dọc kênh Nhiêu Lộc;
Phát triển mới khi có quỹ đất lớn, hoặc khả năng thu hồi tái điều chỉnh đất cao: phổ biến dọc bến Vân Đồn (Q.4) với các dãy nhà kho, xưởng sản xuất. Loại hình này có tiềm năng lớn tại khu vực Q.6, Q.8…
Đối với khu vực phát triển mới, tùy thuộc vai trò vị trí của con kênh, đoạn kênh rạch, có thể xem xét đề xuất đa dạng các tổ hợp công trình, mảng xanh công cộng phù hợp.
.jpg)

Ảnh1 Khu vực kênh rạch loại 1: vốn có giá trị sử dụng đất cao, ưu tiên phát triển cao và trung tầng, thấp dần ra kênh tạo thông thoáng cảnh quan bờ kênh, mở nhiều mảng xanh, không gian công cộng tiếp cận với kênh. Ảnh2 Khu vực kênh rạch loại 2: tùy thuộc vào từng khu vực cụ thể, không khuyến khích cao tầng, tạo hài hòa cảnh quan 2 bờ kênh rạch.
Ảnh3 Khu vực kênh rạch loại 3: khuyến khích giải pháp bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái, mật độ xây dựng thấp và thưa
Thiết kế đô thị phải đi trước một bước
Giải pháp cải tạo, phát triển khu vực ven kênh rạch cần mang tính kết nối tổng thể, đảm bảo đặc thù riêng của cảnh quan sông nước của từng khu vực, trên cơ sở nghiên cứu khảo sát nhận diện giá trị bản sắc một cách kỹ lưỡng, bài bản. Dung hòa các giá trị về cư trú với lợi ích về không gian công cộng và bảo vệ môi trường, đặc biệt môi trường nước.
Với kinh nghiệm thực tế việc thực hiện dự án thiêt kế đô thị (TKĐT) riêng đại lộ Võ Văn Kiệt và Phạm Văn Đồng, rõ ràng công tác lập thiêt kế đô thị riêng cho toàn tuyến kênh rạch cần đi trước một bước. Sau đó, tích hợp kết quả vào Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung, quy hoạch phân khu các quận, phường có ảnh hưởng. Có như vậy, các giải pháp cải tạo phát triển khu vực ven kênh rạch mới có tính tổng thể, kết nối.
Phạm vi nghiên cứu TKĐT không nên ấn định là 20m hay 30m từ mép sông hay đường dọc kênh, mà phải dựa vào các khảo sát thực tế với các tiêu chí cụ thể. Phạm vi không gian phải xét trong mối quan hệ với các yếu tố hay khu vực chi phối, khả năng thu hồi và tái điều chỉnh đất, cũng như tiềm năng và nguồn lực phát triển…
.jpg)

.jpg)
Phân nhóm hệ thống kênh rạch theo “giá trị”
Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 128