ThS. KTS Dương Trọng Bình: "Hãy bảo vệ môi trường bằng những hành vi cụ thể”

Lượt xem: 3516
11/4/2019 0:00 - Chuyên đề
Tác giả: Kiến trúc & Đời sống - Hưng Long thực hiện ảnh Vân Nguyễn

Buổi hẹn của KT&ĐS với ThS. KTS Dương Trọng Bình, Phó khoa Kiến trúc, Trưởng bộ môn Công nghiệp và Kỹ thuật kiến trúc, trường ĐH Kiến Trúc TP. Hồ Chí Minh - phải điều chỉnh do KTS bận nhiều việc khác. Cuối cùng cuộc hẹn cũng chốt được vào buổi chiều cuối năm tại quán cà phê đối diện ĐH Kiến Trúc.

 
Nếu mỗi người đều quan tâm bảo vệ môi trường bằng  những hành vi cụ thể thì chắc chắn môi trường sẽ được giữ gìn, bảo vệ và chăm sóc tốt hơn

 

Ở thành phố này bây giờ, chọn giờ hẹn nên tránh giờ cao điểm, chọn chỗ hẹn càng ít di chuyển càng tốt? Việc đi lại có vẻ càng ngày càng khó chủ động được về giờ giấc, nhất là cuối năm?
Cũng tùy khu vực thôi, cá nhân tôi lại thấy việc đi lại có vẻ dễ dàng hơn một chút, (cười) là vì tôi ở khu Bình Lợi. Khoảng 3 năm nay, từ khi thông xe tuyến đường Phạm Văn Đồng, việc đi lại rất thuận lợi so với trước đó. Quận Bình Thạnh trước đây là vùng ngập trũng thì nay cũng đã giải quyết được phần nào.
 
Hạ tầng cầu đường có những điểm sáng nhưng còn môi trường thì “nóng” suốt năm trên cả nước. Tạp chí KT&ĐS - của Hội Kiến trúc sư TP. Hồ Chí Minh - bắt đầu từ địa bàn thành phố, xin anh cho biết môi trường sống của người dân đang bị ô nhiễm hoặc nguy cơ ô nhiễm nào? 
Tình trạng ô nhiễm môi trường sống của thành phố ta phải được nhìn nhận là khá… toàn diện. Các tác nhân chủ yếu như khí thải, rác thải, chất thải từ các khu chức năng của đô thị... đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường không khí, nước sạch của cư dân. Các nguồn tài nguyên khác như đất, cát, nước ngầm... bị khai thác khá bừa bãi cũng đã có những ảnh hưởng nhất định. 
Thành phố Hồ Chí Minh tuy chưa có sự cố lớn về môi trường như tại sông Thị Vải vài năm trước, hay Formosa Hà Tĩnh trong năm nay, nhưng mức độ ô nhiễm ở một số mặt có thể nói đã ở mức báo động. Hiện tượng cá chết hàng loạt lúc đầu mùa mưa năm 2016 ở kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là một ví dụ cho thấy tình trạng xả thải trực tiếp nhiều hóa chất độc hại ra kênh rạch vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, vấn đề gia tăng dân số đã tạo gánh nặng lên hệ thống hạ tầng của thành phố, cũng là tác nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống, làm suy giảm chất lượng cuộc sống của cư dân. Hậu quả của gánh nặng này là hiện tượng kẹt xe, ngập lụt... trên diện rộng, ngày càng rộng, thành phố thiếu trường lớp, thiếu các cơ sở y tế, văn hóa, giải trí…
Có những hiện tượng ô nhiễm dễ nhận thấy, nhưng cũng có những nguy cơ không dễ nhận ra mà hậu quả lại rất lớn. Ví dụ như khi nói đến vấn đề cấp thoát nước đô thị, người dân thường nghĩ nhiều đến ngập lụt, điều đó không sai. Ngập lụt là vấn đề nan giải của thành phố, ngập lụt ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống. Nhưng cũng cần lưu ý, chất lượng của nguồn nước sạch chúng ta sử dụng hàng ngày là rất quan trọng, nó bị tác động rất nhiều bởi chất lượng các nguồn nước thải, các quy trình xử lý... và vì vậy phải luôn là mối quan tâm hàng đầu trong việc bảo vệ môi trường.
Khi ô nhiễm nguồn nước và không khí ở mức báo động thì hậu quả trực tiếp là sức khỏe người dân bị ảnh hưởng, tỷ lệ các bệnh về hô hấp, bệnh ngoài da... tăng lên, dẫn đến sự quá tải của bệnh viện. Đó là biểu hiện dây chuyền của sự suy giảm chất lượng sống do môi trường bị xấu đi. Hậu quả xa hơn là những xung đột trong xã hội, người dân mất dần niềm tin vào Chính quyền, môi trường đầu tư sẽ bị ảnh hưởng do những bất ổn về xã hội.
 
Vâng, anh đã dùng tới từ “nghiêm trọng”. Anh có bi quan không khi đánh giá như vậy? 
Tôi không hề bi quan. Mô tả thực, nhìn thẳng vào vấn đề không phải là bi quan. Có dư luận cho rằng ô nhiễm đã “tới ngưỡng, tới hạn” và dường như vô phương giải quyết. Chính cái nhìn đó mới là bi quan. Thái độ bi quan là thấy khó khăn thì cố ý trầm trọng hóa vấn đề, phủ nhận mọi điều đã và đang làm để cho rằng mọi thứ đã hoàn toàn bế tắc. 
Trái lại, tôi tin rằng mọi việc vẫn có thể xử lý được. Nói ra thực trạng những vấn đề môi trường đang tồn tại để thấy rằng muốn giải quyết phải nhìn nhận rõ thực tế và nguyên nhân, khi đó nếu thành phố chúng ta có đủ quyết tâm thì sẽ xử lý được. 
Lấy ví dụ, từ những năm 2000, với chủ trương di dời các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất nằm xen lẫn trong các khu dân cư về các khu - cụm công nghiệp tập trung thì thành phố ta đã làm được nhiều việc. Hiện nay, dù chỉ mới gần 70% trên tổng số hơn 1.400 doanh nghiệp được di dời và có thể một số mặt vẫn chưa đạt như mong muốn, nhưng phải nhìn nhận rằng nếu không tiến hành như đã làm thì tình hình còn nghiêm trọng hơn rất nhiều. Thử tượng tượng đến thời điểm này mà các tác nhân gây ô nhiễm trực tiếp như nước thải, khí thải từ các cơ sở trên vẫn còn như ngày xưa thì tình trạng môi trường sẽ xấu như thế nào? Sắp tới đây, các khu dân cư mới, công viên cây xanh, các công trình dịch vụ, thương mại, y tế, giáo dục... sẽ được xây dựng trên chính những khu đất trước đây là nơi sản xuất, là nguồn ô nhiễm, mang đến những tiện ích mới cho cư dân trong khu vực. Ngoài ra, với các chương trình giải tỏa nhà ổ chuột trên và ven kênh rạch, với phố đi bộ, với đường sách... thì không thể phủ nhận thành phố vẫn luôn là nơi năng động, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề về môi trường, không gian đô thị và chăm lo đời sống cho cư dân.
 
Trung ương và thành phố xác định đã đến lúc không nên đánh đổi môi trường để lấy kinh tế. Không nên phát triển bằng mọi giá. Tăng trưởng là cần thiết nhưng nhất định phải giữ được môi trường?
Tôi hoàn toàn đồng ý về nguyên tắc. Nhưng không đánh đổi, không phát triển bằng mọi giá không có nghĩa là kìm hãm sự phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là thành phố có vai trò đầu tàu, động lực của khu vực và cả nước. Vấn đề là phát triển như thế nào? 
Ví dụ như trong lĩnh vực đầu tư. Trước kia ta thu hút đầu tư mà không chú ý tới yếu tố thâm dụng lao động, công nghệ. Với sự ra đời của rất nhiều các khu công nghiệp ở các quận vùng ven, dân số và tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, hạ tầng cơ sở và kỹ thuật của thành phố không kịp phát triển và trở nên quá tải, gây ra nhiều hệ lụy - một thực trạng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, những lợi ích về phát triển kinh tế thường mâu thuẫn với những lợi ích về môi trường. Nếu ta có chiến lược thu hút các nhà đầu tư với các ngành nghề có hàm lượng chất xám cao, có giá trị gia tăng thì vẫn đảm bảo chỉ tiêu phát triển mà lại giảm được gánh nặng hạ tầng, giảm được tác nhân ô nhiễm. Chọn lọc nhà đầu tư, ngành nghề đầu tư là việc cần làm. 
Với các công việc khác cũng vậy, chúng ta phải chủ động để phát triển mà vẫn bảo vệ được môi trường. 
Chủ trương phát triển thành phố là cần thiết nhưng phải giử được môi trường 
 
Ở đây lại có vấn đề, nói dễ làm không dễ, nói được mà không làm được, nhiều người nói ít người làm?
Đúng là trong việc bảo việc bảo vệ môi trường có chuyện đó. 
Tôi lấy thí dụ từ một việc rất đơn giản là thói quen xả rác. Đến giờ này, nếu hỏi thì chắc ai cũng biết tác hại của hành vi xả rác bừa bãi. Nhưng vì sao nó vẫn tồn tại? Vì sao vẫn có nhiều người vi phạm dù ai cũng hiểu, cũng biết? Có thể, một bộ phận không nhỏ người dân vẫn đang cho rằng, môi trường là việc của Chính quyền, một chút rác của mình thì không đáng kể, không có gì ảnh hưởng đến cái chung, nên họ vẫn vi phạm. Cần phải khắc khục ngay tâm lý này. Việc chấm dứt hành vi xả rác bừa bãi thực ra không khó nhưng cũng không hề dễ làm. Nếu mỗi người đều quan tâm đến môi trường bằng những hành vi cụ thể thì sẽ làm được ngay. 
Bảo vệ môi trường, về phía Chính quyền, lại có vấn đề tồn tại khác, đó là công tác kiểm tra, giám sát. Hiện nay, khi lập, khi phê duyệt các dự án để đưa vào khai thác, vận hành trên địa bàn thành phố, có thể nói là nguồn và tác nhân gây ô nhiễm cho môi trường đều đã được lưu ý khá đầy đủ. Các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy, cơ sở sản xuất đều có đề xuất quy trình xả thải đạt yêu cầu, có hệ thống xử lý chất thải, nước thải... Cái yếu của ta hiện nay là khi lập và trình ký phê duyệt dự án thì rất đầy đủ, nhưng khi đưa vào vận hành thì lại dễ bỏ qua, không coi trọng. Vấn đề phải khắc phục là tình trạng có mà không làm và thiếu giám sát.
Về phía các doanh nghiệp cũng vậy, một mặt việc giám sát sẽ bắt buộc họ phải tuân thủ các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường. Mặt khác, tự thân doanh nghiệp phải có ý thức bảo vệ môi trường, coi rằng sự tồn tại của môi trường là sự tồn tại của chính mình. Bài học của Vedan, Formosa… có lẽ không cần nhắc lại. 
Từ những phân tích trên, ta thấy bảo vệ môi trường chỉ có thể làm được với nhiều giải pháp đồng bộ của mọi người, từ nhà quản lý tới doanh nghiệp và người dân. Nếu tất cả cùng quyết tâm, các biện pháp được tiến hành đồng bộ thì tôi tin rằng việc bảo vệ môi trường sẽ có bước chuyển. 
Đã có quan điểm, nếu nhìn nhận vấn đề tác động môi trường chỉ đơn thuần qua các thông số kỹ thuật, thì ta vẫn sẽ quanh quẩn trong việc cân đong đo đếm các chỉ số an toàn, việc ban hành những thông tư nghị định và việc xử lý các vi phạm. Nhưng nếu thay đổi cách nhìn dưới khía cạnh các “ứng xử văn hóa” thì cần xây dựng một xã hội nói không với mọi biểu hiện “sẽ dẫn đến” ô nhiễm, dù là nhỏ nhất. 
 
Bằng chuyên môn của mình, các KTS có thể làm gì để bảo vệ môi trường? 
Với vị trí là người làm công tác thiết kế, tư vấn, có thể nói về mặt nghề nghiệp, KTS có vai trò trực tiếp và rất quan trọng trong việc kiến tạo không gian, môi trường sống và bảo vệ môi trường.
Bài toán về môi trường cần được gắn liền với những giải pháp quy hoạch hợp lý, và việc triển khai thực hiện đúng quy hoạch luôn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Khi làm tư vấn, tôi đã gặp nhiều trường hợp, do quá chú trọng vào hiệu quả đầu tư, các quỹ đất xây dựng được khai thác với các chỉ tiêu quy hoạch được điều chỉnh lên rất cao, gây áp lực lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật và môi trường cho cả một khu vực rộng lớn, nhưng dường như chủ đầu tư đã không chú ý đầy đủ tới vấn đề này. 
Với các KTS lập quy hoạch vùng hoặc quy hoạch chi tiết cho các dự án, phải đặc biệt chú ý đến các vấn đề liên quan môi trường, cảnh quan, nâng cao các chỉ tiêu cây xanh, chú trọng các vấn đề hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là xử lý chất thải, nước thải, bảo vệ các điều kiện môi trường hiện hữu, nguồn nước... và phải tuyệt đối tránh làm tổn thương đến môi trường.
Với những KTS thiết kế công trình, ngoài việc tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, còn phải nắm bắt được xu thế phát triển hiện nay trong lĩnh vực kiến trúc như kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững... KTS cần chủ động hơn để thuyết phục chủ đầu tư trong việc tạo ra các công trình có các giải pháp thiết kế không chỉ đáp ứng tốt yêu cầu công năng, thẩm mỹ mà còn phải hướng đến việc sử dụng vật liệu và thiết bị thân thiện với môi trường, giảm thiểu sử dụng năng lượng. 
Như vậy, cùng với các nhà quản lý, doanh nghiệp, người tiêu dùng và các KTS, mỗi người, mỗi giới đều có vai trò nhất định trong việc bảo vệ và gìn giữ môi trường. Tôi tin rằng, ở vị trí của mình, nếu mỗi người đều quan tâm bảo vệ môi trường bằng những hành vi cụ thể thì chắc chắn môi trường sẽ được gìn giữ, bảo vệ và chăm sóc tốt hơn. 

 

ThS. KTS Dương Trọng Bình quê Quảng Ngãi, sinh năm 1975 tại Nghệ An. Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh năm 1998, anh được giữ lại làm giảng viên và hoàn thành chương trình thạc sĩ năm 2001. Hiện nay anh là Phó khoa Kiến trúc, Trưởng bộ môn Công nghiệp và Kỹ thuật kiến trúc, trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh việc giảng dạy, anh còn tham gia tư vấn thiết kế về kiến trúc và quy hoạch cho nhiều dự án. 

 

Theo TC Kiến Trúc & Đời Sống số 128